Chou Kaguya Hime

Ngoại truyện 5: Minakanushi · Phần 16

Máy bay bay rất lâu.

Lâu đến mức, ở một thời điểm nào đó giữa những tầng mây trắng và tiếng động cơ đều đều, tôi bắt đầu mất cảm giác về thời gian.

Không còn biết bên ngoài là sáng hay tối.

Không còn chắc ở quê nhà bây giờ em đang ngủ, đang chuẩn bị stream, hay đang ôm gối nhìn chiếc tablet đặt trên bàn như thể chỉ cần nhìn đủ lâu, nó sẽ tự sáng lên bằng một cuộc gọi từ tôi.

Múi giờ, hóa ra, là một thứ rất kỳ lạ.

Trước đây, khoảng cách giữa tôi và em đã đủ vô lý rồi.

Một người ở ngoài này.

Một người ở Tsukuyomi.

Một người có thể chạm vào ly nước, cánh cửa, gió lạnh, tay nắm kim loại và những thứ bình thường tới mức không ai buồn quý.

Một người từng phải sống qua tám nghìn năm bằng cách chờ.

Một người ngồi trong phòng lab, cúi đầu trước dữ liệu.

Một người ôm gối bên kia màn hình, dặn người còn lại ăn sáng, ngủ đúng giờ, không uống cà phê quá nhiều.

Chỉ riêng như vậy thôi đã đủ xa rồi.

Vậy mà giờ đây, chỉ vì một chuyến bay, giữa hai đứa lại có thêm một lớp khoảng cách khác.

Giờ giấc.

Một thứ nghe bình thường đến mức gần như đáng ghét.

Tôi ăn bữa sáng trên máy bay trong lúc điện thoại báo ở chỗ em đã là đêm.

Tôi cố nhắm mắt ngủ khi trong đầu lại hiện lên thói quen em sẽ gọi tôi dậy vào buổi sáng.

Tôi mở mắt giữa một vùng trời không biết gọi là ngày hay tối, rồi vô thức chạm vào cái túi nhỏ trong lòng bàn tay.

Chiếc nơ.

Vẫn ở đó.

Nhỏ tới mức gần như chẳng giúp gì được cho khoa học.

Nhưng mỗi lần chạm vào, tôi lại nhớ ra lý do mình đang ngồi trên chuyến bay này.

Không phải vì một hội thảo.

Không phải vì một dự án chung.

Không phải vì tham vọng của một nhà nghiên cứu muốn chạm tới thứ gì đó chưa ai làm được.

Mà vì một người từng đứng trong gió lạnh, mũi đỏ lên, tay nắm mép khăn, nói rằng mình không muốn thua một cơn gió.

Mà vì tôi muốn đưa em tới Giáng Sinh.

Tôi tựa đầu vào ghế.

Trước mặt, màn hình nhỏ trên lưng ghế vẫn hiện bản đồ chuyến bay. Một đường cong rất dài nối giữa nơi tôi vừa rời đi và nơi tôi sắp tới. Máy bay chỉ là một chấm sáng nhỏ trên đó, di chuyển chậm đến mức gần như không đáng kể.

Tôi nhìn chấm sáng ấy.

Rồi tự nhiên nghĩ, có lẽ mình cũng giống như vậy.

Một chấm nhỏ đang bò qua khoảng cách quá rộng.

Chậm.

Mệt mỏi.

Nhưng vẫn đi.

Bởi vì ở đầu bên kia của đường cong đó, có một thứ tôi phải mang về.

Lúc máy bay hạ cánh, người tôi rã ra như vừa bị tháo từng khớp nối rồi lắp lại không đúng thứ tự.

Mọi thứ ở sân bay đều vội vã quá mức cần thiết.

Biển chỉ dẫn.

Tiếng loa.

Dòng người kéo vali.

Mùi cà phê.

Mùi nước hoa.

Từng người đi qua nhau trong không khí lạnh.

Tôi đứng giữa tất cả những thứ ấy, đầu óc nặng trĩu, mắt khô, lưng đau, chỉ muốn tìm một góc nào đó ngồi xuống rồi không tồn tại trong vài phút.

Nhưng tay tôi vẫn mở điện thoại ngay khi có mạng.

Tin nhắn từ Yachiyo hiện lên gần như lập tức.

Chị tới nơi chưa?

Tôi nhìn dòng chữ ấy một lúc.

Rồi đáp:

Tới rồi.

Bên kia seen ngay.

Ba giây sau:

Ăn chưa?

Tôi bật cười giữa khu nhận hành lý.

Không lớn.

Nhưng đủ để người đứng cạnh liếc tôi một cái.

Em hỏi câu đó nhanh hơn cả nhập cảnh.

Yachiyo trả lời:

Vì nhập cảnh không thương chị bằng em.

Tôi đứng giữa một sân bay xa lạ, tay kéo vali, đầu óc còn nặng vì lệch múi giờ, mà vẫn phải cúi xuống nhìn màn hình thêm mấy giây vì không biết nên cười trước hay đỏ mặt trước.

Cuối cùng, tôi nhắn:

Chị sẽ ăn.

Lần này, em gửi lại một sticker rất hài lòng.

Rồi thêm một câu:

Ngủ được thì ngủ. Không được mở laptop ngay.

Tôi nhìn cái laptop trong túi xách.

Rồi lặng lẽ đóng khóa kéo lại.

Không biết từ lúc nào, tôi bắt đầu thấy việc nghe lời em không còn giống bị quản nữa.

Nó giống một cách để giữ mình không bị rơi khỏi chính cơ thể này trong lúc cố kéo em về. Sau đó tôi bắt taxi về nơi ở mà Tiến sĩ Clark đã sắp xếp cho tôi từ trước.

Nhóm bên Mỹ đón tôi ở khách sạn và chúng tôi đến viện nghiên cứu vào buổi chiều.

Hoặc có lẽ là sáng.

Tôi thật sự không chắc nữa.

Trong đầu tôi, giờ giấc quê nhà và giờ ở đây bắt đầu chồng lên nhau như hai lớp giấy trong suốt đặt lệch.

Khi người bên này nói “good morning”, tôi lại nghĩ tới việc ở bên kia, có lẽ Yachiyo đã chuẩn bị lên stream.

Khi họ đưa tôi cà phê, tôi lại nhớ tới cảnh em chắc chắn sẽ nheo mắt nếu biết tôi định uống cốc thứ hai.

Khi đồng hồ trên tường chỉ một giờ hoàn toàn hợp lý với nơi này, trong đầu tôi vẫn tự động quy đổi sang giờ của em.

Ở đó, em đang làm gì?

Có đang ăn không?

Có đang ôm gối không?

Có mở stream của chính mình xem lại phần nào đó để kiểm tra biểu cảm không?

Có nhìn tablet thêm một lần dù biết tôi đang ở lab bên này không thể gọi ngay không?

Múi giờ không chỉ làm người ta mệt.

Nó còn làm nỗi nhớ bị xé ra thành những mảnh rất nhỏ, rải khắp tâm trí tôi cả ngày.

Phòng lab bên này rộng hơn.

Mọi thứ trông mới hơn, hiện đại hơn một chút.

Màn hình lớn xếp dọc trên tường.

Các cụm thiết bị đọc tín hiệu thần kinh tinh vi hơn nhiều so với hệ trong nước.

Dây nối, bộ thu, lớp mô phỏng xúc giác, các module phản hồi vi mô tất cả đều nằm ở đó, gọn gàng tới mức làm người ta có cảm giác chỉ cần thở mạnh hơn một chút thôi cũng sẽ làm hỏng trật tự của căn phòng.

Một nhà nghiên cứu tóc bạc giới thiệu hệ thống.

Tôi nghe.

Gật đầu.

Ghi chú.

Hỏi lại.

Lần đầu tiên trong nhiều ngày, đầu óc tôi thật sự bị kéo khỏi nỗi nhớ em trong vài tiếng liền.

Không phải vì quên.

Mà vì cuối cùng, trước mắt tôi có thứ có thể giúp rút ngắn con đường thật sự.

Hệ đọc xúc giác chính xác của họ không chỉ tách được áp lực, nhiệt độ, độ nhám, độ trơn, biên độ chạm và hướng chuyển động.

Nó còn có thể ghi nhận những dao động rất nhỏ ở lớp phản hồi thần kinh khi cảm giác đi kèm ký ức hoặc phản ứng cảm xúc.

Tôi đứng trước màn hình mô phỏng, tay đặt trên mép bàn.

Không biết mình đã nín thở từ lúc nào.

Nhà nghiên cứu bên cạnh nói tiếp rất nhiều thuật ngữ.

Tôi nghe được.

Hiểu được.

Nhưng giữa tất cả những câu tiếng Anh trôi qua, trong đầu tôi chỉ hiện lên một hình ảnh duy nhất:

Yachiyo chạm vào tóc tôi.

Rồi hệ thống rung.

Nếu thứ này đọc được chỗ đó, nếu nó giúp chúng tôi biết chính xác phần nào của cái chạm khiến em quá tải thì chúng tôi có thể sửa.

Không phải sửa đại khái.

Mà sửa đúng vào nơi cần sửa.

Những ngày ở Mỹ bắt đầu như thế.

Không có khoảng nghỉ đúng nghĩa.

Chỉ có sự thay đổi giữa phòng lab, phòng khách sạn, cửa hàng tiện lợi, cuộc gọi video và những giấc ngủ rời rạc bị múi giờ bẻ cong.

Buổi sáng ở đây, tôi vừa mở mắt thì bên kia đã là tối.

Yachiyo gọi video, ôm gối, nhìn tôi bằng vẻ mặt rất nghiêm túc.

“Chị đã ngủ mấy tiếng?”

“Ba tiếng rưỡi.”

Em nhíu mày.

“Chị Iroha.”

“Nhưng có ngủ.”

“Đó không phải đáp án tốt.”

“Là đáp án thật.”

Yachiyo im một chút.

Rồi thở ra.

“Vì chị nói thật nên em giảm mức mắng xuống một nửa.”

Tôi chống tay ngồi dậy trên giường khách sạn, tóc chắc chắn đang rối đến mức nếu có gương ở trước mặt, tôi sẽ tự thấy mình cần xin lỗi nhân loại.

“Cảm ơn em rộng lượng.”

“Không có gì.”

Em gật đầu.

“Người vợ hiền phiên bản quốc tế phải biết linh hoạt.”

Tôi suýt làm rơi điện thoại xuống chăn.

“Yachiyo.”

“Vâng?”

“Đừng dùng danh xưng đó lúc chị lệch múi giờ.”

“Vì sao?”

“Vì sức phòng thủ của chị đang rất thấp.”

Yachiyo nghe vậy thì cúi mặt xuống gối cười.

Rất khẽ.

Rất đáng ghét.

Và rất làm tôi muốn về nhà ngay lập tức.

Có những hôm tôi ăn sáng thì em đang buồn ngủ.

Tôi ngồi trong quán nhỏ gần khách sạn, trước mặt là bánh mì nướng và cà phê nhạt hơn kỳ vọng. Ngoài cửa sổ, người ta đi qua trong những chiếc áo khoác dày, hơi thở mờ trong không khí lạnh. Trong quán, tiếng máy pha cà phê kêu rất nhỏ, tiếng muỗng chạm vào ly vang lên đều đều.

Còn trên màn hình điện thoại, Yachiyo cố mở mắt để giám sát tôi ăn.

“Em buồn ngủ thì ngủ đi.”

Tôi nói.

“Không.”

Em lắc đầu.

“Em phải xem chị ăn sáng.”

“Em đang sắp gục rồi đấy.”

“Em vẫn còn chức năng theo dõi.”

“Em không phải camera an ninh.”

“Em là người yêu.”

Câu đó làm tôi im.

Yachiyo lúc ấy chắc buồn ngủ quá nên nói xong mới nhận ra mình vừa nói gì. Em chớp mắt, rồi kéo gối lên che nửa mặt.

“…Em nói đúng mà.”

Tôi cười.

“Ừ.”

Tôi đáp.

“Đúng.”

Thế là em lại ngượng.

Còn tôi thì cắt một miếng bánh mì, bỏ vào miệng, tự nhiên thấy bữa sáng ở một đất nước xa lạ bớt nhạt hơn một chút.

Có những hôm ngược lại.

Tôi vừa chúc em ngủ ngon thì bên này trời mới sáng.

Yachiyo nằm trong chăn, tablet đặt nghiêng bên cạnh, giọng mềm vì cơn buồn ngủ.

“Chị bắt đầu ngày mới rồi ạ?”

“Ừ.”

“Em thì kết thúc ngày rồi.”

“Ừ.”

Em im một chút.

Rồi khẽ cười.

“Nghe như mình đang chia đôi một ngày vậy.”

Tôi nhìn ánh sáng xám nhạt ngoài cửa sổ khách sạn.

Rồi nhìn em ở bên kia màn hình.

“Ừ.”

Tôi nói.

“Mỗi người giữ một nửa.”

“Vậy chị đừng làm hỏng nửa của chị nhé.”

“Còn em?”

“Em sẽ ngủ thật ngoan.”

“Nghe không đáng tin.”

“Chị không tin em.”

“Chị rất tin em.”

“Không, chị tin em có thể ngủ sai tư thế rồi sáng dậy kêu cổ đau.”

Yachiyo im đúng một nhịp.

Rồi nhỏ giọng:

“…Cái đó là lỗi của cái gối.”

Tôi bật cười thành tiếng trong căn phòng khách sạn xa lạ.

Tiếng cười vang lên hơi trống.

Nhưng nhờ có em, nó không còn cô đơn nữa.

Những lúc không gọi được trực tiếp, tôi mở stream lưu lại của em.

Đó là thói quen bắt đầu ngay từ ngày thứ hai ở Mỹ.

Sau mười hai tiếng trong lab, đầu óc tôi rã ra tới mức chữ trên màn hình bắt đầu trôi đi như nước. Tôi về phòng, mở laptop với ý định đọc thêm tài liệu, nhưng cuối cùng tay lại tự động mở archive stream của Yachiyo.

Giọng em vang lên từ loa nhỏ.

“Chào buổi sáng mọi người~”

Tôi ngồi xuống giường.

Không thay đồ ngay.

Không tắm ngay.

Chỉ ngồi đó, nghe em chào một buổi sáng đã trôi qua ở bên kia thế giới, còn ở chỗ tôi thì ngoài cửa sổ chỉ còn đèn thành phố xa lạ.

Stream của em đúng là khác thật.

Fan nói đúng.

Yachiyo cười nhiều hơn.

Giọng nhẹ hơn.

Có lúc đang đọc bình luận, em bỗng liếc rất khẽ vào camera, chỉ một cái liếc thôi, rồi nói:

“Hôm nay mọi người nhớ ăn uống tử tế nhé. Nhất là những người đang ở xa.”

Khung chat lập tức nhảy.

Ở xa là ai cơ??

Yaccho đang gửi tín hiệu à?

Có mùi gì đó nha.

Yachiyo nhìn chat.

Rồi cười rất vô tội.

“Không có gì đâu.”

Tôi ngồi trong phòng khách sạn, tay cầm chai nước còn chưa mở, nhìn màn hình mà không biết nên cười hay nên gục mặt xuống gối.

Không có gì cái gì chứ.

Rõ ràng là nói cho tôi nghe.

Ngày hôm sau, trong stream lưu lại, em lại nói:

“Hôm nay trời lạnh nên đừng quên khăn nhé. Nếu ai đó có thói quen nói mình không lạnh thì càng phải dùng nó đấy.”

Khung chat tiếp tục phát điên.

Tôi thì lặng lẽ kéo khăn trong vali ra đặt lên ghế, để sáng mai khỏi quên.

Ngày thứ ba, em đọc superchat xong, đột nhiên nghiêng đầu nói rất nhẹ:

“Có những người ấy mà, lúc tập trung quá sẽ quên mất mình cũng là con người. Mọi người đừng học theo nha.”

Tôi đang mở tài liệu về mô hình xúc giác sâu thì khựng lại.

Rồi rất chậm, nhìn sang cốc cà phê thứ ba trên bàn.

Sau đó, tôi đứng dậy đi lấy nước.

Không phải vì bị bắt quả tang.

Mà vì nếu không uống, tối gọi em, chắc chắn tôi sẽ không qua nổi phần kiểm tra.

Nhưng những ngày xa nhau không chỉ có rom-com.

Có những đêm tôi nhớ em tới mức thấy bực.

Bực vì khoảng cách.

Bực vì múi giờ.

Bực vì bên ngoài cửa sổ là một thành phố hoàn toàn xa lạ, đèn rất đẹp, đường rất rộng, tuyết bắt đầu phủ mỏng trên mái một vài chiếc xe, vậy mà người tôi muốn cho xem đầu tiên lại không đứng cạnh tôi.

Tôi đã chụp ảnh gửi cho em.

Một góc phố.

Một biển hiệu.

Tuyết mỏng dưới đèn.

Yachiyo nhắn lại:

Đẹp quá.

Rồi vài giây sau:

Em muốn nhìn cùng chị.

Tôi đứng trong gió lạnh, áo khoác kéo cao tới cổ, nhìn dòng chữ ấy rất lâu.

Cuối cùng mới đáp:

Sau này chị đưa em đi.

Em seen.

Không trả lời ngay.

Rồi gửi lại:

Vâng. Nhưng trước hết là Giáng Sinh ở nhà mình đã.

Nhà mình.

Chỉ hai chữ thôi.

Ở một nơi cách em nửa vòng thế giới, tôi lại thấy sống mũi mình cay lên vì một thứ quá nhỏ như vậy.

Nhà mình.

Một căn phòng có Bình Thường bơi trong bát nước, con thỏ bông nghiêng ở mép giường, ngọn đèn vàng chưa tắt, tablet đặt trên bàn và một người ở bên kia màn hình vẫn luôn cố biến nó thành nơi có hai người.

Nhà mình.

Tôi đọc lại hai chữ đó thêm một lần.

Rồi thêm một lần nữa.

Đến lúc tuyết rơi nhiều hơn một chút, tôi mới nhận ra tay mình đã lạnh cóng vì đứng ngoài quá lâu.

Công việc tiến triển nhanh hơn tôi tưởng.

Có lẽ vì nhóm bên Mỹ thật sự mạnh.

Có lẽ vì tôi gần như không cho phép mình chậm lại.

Có lẽ vì mỗi lần mệt tới mức muốn dừng lại, tôi lại mở một đoạn stream của em, nghe em nói mấy câu hint rất vụng về vào camera, rồi nhớ rằng mình không được phép để những câu ấy chỉ dừng ở hint mãi.

Đến ngày thứ tư, chúng tôi có đột phá đầu tiên.

Không phải ở toàn bộ hệ thống.

Chỉ ở phần xúc giác chính xác.

Nhưng với tôi, nó giống như một cánh cửa khác vừa hé ra.

Chúng tôi dùng dữ liệu cũ của lần Yachiyo chạm vào tóc tôi, đưa qua hệ đọc sâu của họ, tách từng lớp tín hiệu ra.

Áp lực.

Nhiệt độ.

Chuyển động.

Độ trượt.

Phản hồi thần kinh tức thời.

Phản hồi cảm xúc đi kèm.

Độ rung trong lõi đồng bộ khi cảm giác ấy chạm tới ký ức và ý nghĩa riêng.

Tất cả bỗng hiện ra rõ hơn rất nhiều.

Không còn là một cụm nhiễu khó chịu.

Không còn là “hệ thống rung vì quá tải”.

Mà là từng lớp.

Tôi nhìn màn hình.

Đầu óc trống đi đúng một giây.

Rồi bắt đầu chạy rất nhanh.

“Chỗ này.”

Tôi chỉ vào một đoạn tín hiệu.

“Không phải xúc giác thuần. Là tầng cảm xúc phản hồi quá sát lõi.”

Nhà nghiên cứu bên cạnh gật đầu.

“Đúng. Nếu cô tách nó ra trước khi vào lõi chính, dùng lớp đệm phụ…”

“Thì phần thân thể sẽ biết đó là cảm giác mềm trước, rồi ý thức mới xử lý phần ý nghĩa sau.”

Tôi nói tiếp.

Gần như giành mất lời.

Ông ấy nhìn tôi.

Rồi cười.

“Exactly.”

Tôi không nghe phần sau nữa.

Hoặc có nghe, nhưng chỉ còn như âm thanh đi qua một lớp nước.

Bởi vì trong đầu tôi lúc đó, tất cả đang ghép lại.

Tóc của tôi.

Bàn tay em.

Cú rung của hệ thống.

Giấc mơ.

Cảm giác sống như một con người.

Nếu chúng tôi tách được lớp xúc giác chính xác này ra, rồi đưa vào tầng đệm ở Tsukuyomi trước khi tín hiệu đổ vào cơ thể thử nghiệm.Nếu để hệ thống học cách phân biệt vật lý và ý nghĩa.Nếu một cái chạm vào tóc không còn bị dồn thành một khối quá nặng nữa thì không chỉ tóc.

Mà là tay.

Là ôm.

Là chăn.

Là gối.

Là nhiệt độ của một người nằm cạnh.

Là tất cả những gì một cơ thể cần để thật sự sống bên cạnh người khác.

Tôi nhìn kết quả chạy thử.

Dòng sai số giảm xuống.

Không hoàn hảo.

Nhưng giảm rõ rệt.

Rõ tới mức không ai trong phòng cần hỏi tôi vì sao mặt tôi bỗng thay đổi.

Tay tôi đặt trên bàn, hơi run.

Rất nhẹ thôi.

Nhưng tôi biết.

Đây là nó.

Không phải đáp án cuối cùng.

Nhưng là mảnh còn thiếu đầu tiên.

Mảnh mà nếu đem về kịp, có thể kéo Giáng Sinh lại gần thêm một đoạn rất lớn.

Tôi mở laptop của mình.

Sao lưu.

Ghi chú.

Đóng gói mô hình.

Chạy lại kiểm tra.

Từng thao tác đáng lẽ phải thật bình tĩnh, nhưng tim tôi thì đập quá nhanh.

Nhà nghiên cứu tóc bạc hỏi tôi có muốn nghỉ trước khi tiếp tục không.

Tôi lắc đầu ngay.

“Không.”

“Tôi cần phải đưa nó vào Tsukuyomi.”

Ông nhìn tôi.

Có lẽ thấy được trên mặt tôi thứ gì đó mà bản thân tôi lúc ấy cũng không kịp giấu.

Không chỉ là hứng thú học thuật.

Không chỉ là niềm vui của một nhà nghiên cứu vừa tìm thấy đường ra.

Mà là một nỗi nôn nóng gần như đau.

Tôi nhìn lại màn hình, nơi kết quả chạy thử vẫn sáng.

Rồi nghĩ tới Yachiyo.

Tới stream lưu lại.

Tới câu chị đi về phía em nhé.

Tới đêm Giáng Sinh chỉ còn cách chúng tôi bằng một số ngày có thể đếm được.

Tôi siết tay lại.

Không cần ai nhắc.

Không cần thêm một lý do nào nữa.

Tôi biết rất rõ rồi.

Tôi phải đưa nó vào Tsukuyomi ngay.

SCROLL DOWN